Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
  ► Tìm kiếm
 

XÃ MINH XUÂN

Ngày xuất bản: 10/06/2015 2:09:32 SA

 Diện tích tự nhiên: 28,11km2

Dân số: 6.625 người

 

 

Cánh đồng Minh Dương những năm 90/Tk20

Trước năm 1945 là đất của 2 xã Đà Dương và Dương Thượng, có tên trong bút lục châu vụ Lục Yên từ năm Thành Thái nguyên niên (1896), đồng thời cũng là đất của ngôi làng cổ Bắc Pha (Pác Pha). Phía Bắc giáp xã Đồng Yên (huyện Quang Bình, Hà Giang) phân giới tại dãy núi Hoàng Anh, phía Nam gipa xã Liễu Đô, phía Đông giáp xã Mường Lai, phía Tây giáp thị trấn Yên Thế và xã Yên Thắng. Các xã Đà Dương và Dương Thượng trước đó nữa có thể là xã Bắc Pha (chưa rõ nguồn). Địa hình khá bằng phẳng, có nhiều ngọn núi đá vôi chia cắt thành các tiểu vùng, mỗi vùng là một vài thôn, bản. Con ngòi Biệc (Bích Đà hay Khuổi Piệc - ngòi xanh, nhiều thác) và ngòi Yên chảy qua giữa làng, ngày xưa có cảng nông lâm sản tại Bến Muỗm (gần Bó Cáng). Phía Đông là dòng chảy Ngòi Át hoang sơ, bốn mùa nước trong xanh, người ta chặn dòng bởi con đập Làng Át, dẫn nước ngược lên tưới cho cánh đồng Làng Yên và cung cấp nguồn nước sạch cho thị trấn Yên Thế.

Cộng đồng dân cư thời phong kiến hầu như thuần dân tộc Tày, dòng họ Hoàng lâu đời sinh sống trên mảnh đất cổ kính này. Trước năm 1945 có 14 thôn, bản tính từ phía Bắc xuống là, thôn Nà Trạng (hoặc Nà Tượng nay thuộc Hà Giàng), thôn Nà Khà, thôn Nà Vài, thôn Tông Pha (Pác Pha), làng Bó Cáng, thôn Tông Cụm, thôn Bó Ngược (Ngòi Vặc - nơi phát lộ trống đồng Ngòi Vặc), thôn Trang Thành, thôn Bản Giạng, thôn Tông Cáy, thôn Tông Poọng, thôn Đon Cạng, thôn Bản Át, bản Bó Diêm, thôn Bản Thoọc ( hiện thuộc xã Yên Thắng). Là xã cửa ngõ phía Đông Bắc từ Lục Yên thông với Hà Giang tại eo núi Hoàng Anh. Minh Xuân là địa phương đã phát lộ trống đồng Ngòi Vắc thuộc nền văn minh Sông Hồng và còn nhiều tồn nghi khác là di chỉ khảo cổ nhưng chưa có điều kiện khai quật như thành cổ Nhà Bầu, thành Bắc Pha (thôn Chang Thành v.v...)

Theo huyền thoại thì dưới triều Vua Lê Chiêu Tông (1516 - 1522) Gia quốc công Vũ Văn Mật được giao chức Tổng binh Tuyên Quang. Căn cứ chính là xã Đại Đồng, châu Thu Vật (Yên Bình - Yên Bái). Ông ra sức xây dựng dân binh, xây đắp thành lũy, tạo dựng cơ sở hậu cần, luyện tập quân sự cả một vùng rộng khắp từ Tuyên Quang đến Lào Cai, từ Việt Trì lên đến thượng nguồn sông Chảy, lập nhiều doanh binh trong các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, nhằm phù Lê, diệt Mạc. Tại châu Lục Yên có doanh binh Yên Bắc (có thể là vùng Phố Ràng - Bảo Yên sau này) và thành Bắc Pha nằm trong hệ thống phòng ngự của doanh binh Yên Bắc, do một thanh niên trẻ tên là Hoàng Lang, quê quán ở Bạch Sa (Hàm Yên - Tuyên Quang) làm thủ lĩnh, đồng thời ông cũng là vị hôn thê tương lai của một tướng quân nhà họ Vũ. Thủ lĩnh Hoàng Lang cho binh lính và dân binh đắp một hệ thống thành đất rất kiên cố xung quanh thành Bắc Pha (thôn Chang Thành - Minh Xuân), từ ngòi Biệc kéo dài trên 10km đến bờ ngòi Đại Cại, xã Tân Lĩnh, đồng thời cho trồng tre gai thành dinh lũy vững chắc. Mặt khác, ông còn cho lập kho tàng chứa vũ khí tại Pù Khố (thôn Thâm Pồng - xã Yên Thắng), lập chợ Bắc Pha và mở rộng cảng Bến Muỗm để giao lưu hàng hóa với các miền và thông thương với đại bản doanh Đại Đồng, châu Thu Vật.

Vào thập kỷ 90/Tk16 bị nhà Mạc phản kích quyết liệt, đại bản doanh Đại Đồng bị vỡ, binh lính họ Vũ lui dần ngược sông Chảy về đồn Yên Bắc - Phố Ràng đến đồn Bắc Pha, tại đây diễn ra một trận quyết chiến, thành Bắc Pha bị vỡ, thủ lĩnh Hoàng Lang tử trận. Sau 150 năm với danh nghĩa phù Lê, diệt Mạc nhằm thâm ý cát cứ một phương không thành, từ đây kết thúc sự nghiệp quan sự của Gia quốc công Vũ Công Mật, nay chỉ lưu lại hậu thế những đoạn thành cổ nhà Bầu phủ kín rêu phong và đền thờ Gia quốc công tại một số địa phương và nhiều huyền thoại trong nhân dân.

Tháng 8/1945, đơn vị Giải phóng quân do Đội Anh và Đội Hà đến xã tuyên truyền cách mạng, cán bộ Việt Minh trực diện với nguyên Chánh tổng Hoàng Đình Chước tại thôn Chang Thành, thuyết phục bằng chính sách Việt Minh, các chức dịch ngả theo, trao chính quyền cho cách mạng.

Sau năm 1945, 2 xã Đà Dương và Dương Thượng sáp nhập thành một, đặt tên là xã Ái Quốc (tên xã do Việt Minh đặt). Năm 1950 đổi tên thành xã Khai Xuân, sau CCRĐ năm 1954 thành lập xã Toàn Thắng gồm 3 thôn: Minh Dương, Khai Xuân và nhập thôn Hồng Quang (tức xã Liễu Đô trước đó), điều chỉnh thôn Làng Thọc vào xã Yên Thắng.

Ngày 13/11/1965 chia xã Toàn Thắng thành 2 xã là Minh Xuân, gồm thôn Minh Dương và thôn Khai Xuân, tách thôn Hồng Quang lập xã Liễu Đô (tức xã Liễu Đô cũ).

Hiện nay, các thôn trong xã đặt theo thứ tự con số 1-2-3 nhưng tên làng bản cổ vẫn gắn liền với đời sống hàng ngày của người dân: Nà Khà, Nà Vài, Bản Cố, Bản Yên, Tông Pha, Tông Cụm, Bó Ngược, Chang Thành, Bản Giạng, Tông Cáy, Tông Poọng,  Đon Cạng, Bản Át...

(Theo sách bước đầu tìm hiểu về tên làng cổ của huyện Lục Yên)

 

 

CÁC TIN LIÊN QUAN:

Bản đồ Huyện Lục Yên

Thư viện Video

Ca khúc về Lục Yên

Lượt truy cập