Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái
  ► Tìm kiếm
 

Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2012; phương hướng, nhiệm vụ năm 2013


Ngày xuất bản: 22/04/2015 7:41:11 SA
Lượt đọc: 1469

Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội năm 2012; phương hướng, nhiệm vụ năm 2013

BÁO CÁO

Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012,

phương hướng, nhiệm vụ năm 2013

 

 

 


Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NĂM 2012

 

 

Bước vào thực hiện nhiệm vụ năm 2012 - năm thứ 2 thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lục Yên lần thứ XX và là năm thứ 2 thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm (giai đoạn 2011-2015) gặp nhiều khó khăn do tình hình chung của nền kinh tế thế giới và trong nước, giá các mặt hàng thiết yếu như điện, xăng dầu và một số loại vật tư tăng cao, việc thay đổi một số cơ chế, chính sách của Trung ương, của tỉnh ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất và đời sống của nhân dân.

Song, được sự quan tâm của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, sự lãnh đạo của Huyện uỷ, giám sát của Hội đồng nhân dân huyện, sự quản lý, điều hành tích cực của Uỷ ban nhân dân huyện, cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc, tình hình kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục có bước phát triển và đạt được kết quả như sau:

I. LĨNH VỰC KINH TẾ

Kinh tế của huyện trong năm 2012 tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao đạt 17,1%, vượt 1,4% kế hoạch, tăng 0,4% so với năm 2011.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục có sự chuyển dịch đúng hướng, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư nghiệp, trong đó: ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 27,7%, vượt kế hoạch, giảm 6,5% so với năm 2011; ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 42,6%, vượt kế hoạch, tăng 9,3% so với năm 2011; ngành thương mại - dịch vụ chiếm 29,7%, thấp hơn chỉ tiêu kế hoạch.

Tổng giá trị sản xuất nền kinh tế năm 2012 (giá cố định) đạt 1.149 tỷ đồng, vượt kế hoạch, tăng cao so với năm 2011. Tổng giá trị xuất khẩu năm 2012 đạt 6,5 triệu USD, đạt 108,3% kế hoạch, tăng 1 triệu USD so với năm 2011.

Giá trị sản xuất bình quân đầu người đạt 23,4 triệu đồng/người/năm, vượt kế hoạch, tăng 6,1 triệu đồng so với năm 2011. Thu nhập bình quân đầu người đạt 14,1 triệu đồng, tăng 3,18 triệu đồng so với năm 2011.

 

1. Sản xuất nông nghiệp

          Tốc độ tăng trưởng ngành nông, lâm, ngư nghiệp đạt 6%, vượt 0,7% kế hoạch. Tổng giá trị sản xuất ngành nông - lâm - ngư nghiệp đạt 318 tỷ đồng, bằng 100,6% kế hoạch, tăng 18 tỷ đồng so với năm 2011.

          a)  Trồng trọt

          - Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt thực hiện là 12.351 ha (lúa 7.290 ha, ngô 5.061 ha) bằng 101,9% kế hoạch năm 2012, giảm 456,4 ha so với năm 2011 (nguyên nhân là do diện tích ngô đông xuân 2011-2012 thấp hơn năm trước và một phần diện tích chuyển đổi cơ cấu cây trồng). Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 56.389 tấn (thóc 38.859 tấn, ngô 17.530 tấn) bằng 106,2% kế hoạch năm 2012, tăng 337 tấn so với năm 2011.

          + Diện tích cây lúa 7.290 ha, bằng 104,6% kế hoạch; sản lượng đạt 38.859 tấn, bằng 106,6% kế hoạch (trong đó: lúa vụ xuân đạt 3.654 ha, năng suất 55,4 tạ/ha, sản lượng đạt 20.243 tấn, tăng 932 tấn so với năm 2011; lúa vụ mùa đạt 3.636 ha, năng suất đạt 51,2 tạ/ha, sản lượng 18.616 tấn, tương đương so với năm 2011).  

          + Diện tích cây ngô 5.061 ha, bằng 98% kế hoạch; sản lượng 17.530 tấn, bằng 104,3% kế hoạch (trong đó: ngô đông xuân 2011-2012 diện tích 3.230 ha năng suất 35 tạ/ha, sản lượng đạt 11.305 tấn, giảm 1.252 tấn so với năm 2011; diện tích ngô vụ hè thu 1.831 ha, năng suất 34 tạ/ha, sản lượng đạt 6.225 tấn, tăng 673 tấn so với năm 2011.

          - Tổng diện tích cây chất bột 2.302,7 ha, bằng 134,7% kế hoạch, giảm 45,3 ha so với năm 2011, trong đó:

+ Cây khoai tím: Diện tích 118 ha, bằng 79% kế hoạch; năng suất bình quân 144,8 tạ/ha, sản lượng đạt 1.709 tấn (giảm: 12 ha; 111 tấn so với năm 2011).

+ Cây sắn: Diện tích 1.409,7 ha, bằng 140,9% kế hoạch, năng suất bình quân 155 tạ/ha, sản lượng đạt 21.850 tấn (giảm: 190,3 ha; 2.154,4 tấn so với năm 2011);

+ Cây khoai lang: Diện tích 775 ha, bằng 138,4% kế hoạch, năng suất bình quân 55,06 tạ/ha, sản lượng đạt 4.281,6 tấn (tăng: 157 ha; 878,3 tấn so với năm 2011).

          - Diện tích rau đậu các loại 1.524,2 ha, bằng 108,9% kế hoạch, tăng 22,1 ha so với năm 2011.

          - Diện tích cây công nghiệp ngắn ngày đạt 1.164,2 ha, bằng 107,8% kế hoạch, tăng 49,9 ha so với năm 2011, trong đó:

+ Cây lạc: Diện tích 1.060 ha, bằng 108,2% kế hoạch; sản lượng đạt 2.423 tấn (tăng: 88 ha; 133 tấn so với năm 2011), trong đó: lạc vụ xuân diện tích 823 ha, năng suất 24,2 tạ/ha, sản lượng đạt 1.991,7 tấn; lạc vụ thu diện tích 237 ha, năng suất 18,2 tạ/ha, sản lượng 431,3 tấn.

+ Cây đậu tương: Diện tích 104,2 ha, bằng 52,1% kế hoạch, sản lượng đạt 187,1 tấn (giảm: 38,1 ha; 46,9 tấn so với năm 2011), trong đó: đậu tương vụ xuân diện tích 37,2 ha, năng suất 14,3 tạ/ha, sản lượng 53,1 tấn; đậu tương hè thu diện tích 67 ha, năng suất 20 tạ/ha, sản lượng 134 tấn.

          Cây ăn quả: Trồng mới và cải tạo 50 ha, bằng 100% kế hoạch.

          b) Chăn nuôi, thủy sản

 - Chăn nuôi duy trì và phát triển ổn định, không có dịch bệnh lớn xảy ra. Tại thời điểm 01/10/2012 tổng đàn gia súc đạt 111.546 con, bằng 105,8% kế hoạch, tăng 12.710 con so với năm 2011, trong đó: Đàn lợn 93.425 con, đạt 114% kế hoạch, tăng 21,7% so với năm 2011; đàn trâu: 17.377 con, bằng 79% kế hoạch; đàn bò: 744 con, bằng 53% kế hoạch (nguyên nhân số lượng đàn trâu, đàn bò giảm do khu vực chăn thả bị thu hẹp; cơ giới hóa được phổ biến; nhu cầu tiêu thụ sản phẩm thịt trâu, bò ngày càng tăng, ngoài ra việc nuôi bò chưa thực sự phù hợp với tập quán nuôi đại gia súc của người dân). Đề án hỗ trợ phát triển chăn nuôi trâu, bò sinh sản cho các hộ nghèo tiếp tục tiến hành nghiệm thu và giải ngân, tuy nhiên vẫn còn chậm và kéo dài do nguồn vốn được cấp muộn (đã giải ngân hỗ trợ được 137 con trâu, bò; giải ngân hỗ trợ 352 chuồng trâu, bò và 31 hộ trồng cỏ). Xây dựng chương trình hỗ trợ phát triển sản xuất một số sản phẩm nông lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn huyện Lục Yên giai đoạn 2013-2015, trong đó xây dựng một số mô hình có tiềm năng phát triển như vùng sản xuất, chăn nuôi hàng hóa, bảo tồn và phát triển giống vịt bầu Lâm Thượng, Khánh Thiện...

- Thủy sản: Duy trì ổn định 310 ha diện tích mặt nước (ao, hồ) nuôi thủy sản, bằng 100% kế hoạch. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng ước đạt 968 tấn bằng 100% kế hoạch, bằng 74,5% so cùng kỳ; sản lượng thuỷ sản khai thác đánh bắt ước đạt 292 tấn bằng 100% kế hoạch và bằng 97,3% so cùng kỳ.

- Thực hiện chương trình hỗ trợ phát triển một số mô hình nuôi thủy sản đem lại hiệu quả kinh tế cao (ba ba, chép lai ba máu, rô phi đơn tính), hỗ trợ đóng mới lồng bè nuôi cá và phát triển một số cơ sở chăn nuôi hàng hoá tập trung. Trong năm triển khai thực hiện hỗ trợ 9 cơ sở chăn nuôi lợn nái, 18 cơ sở chăn nuôi lợn thịt, 5 cơ sở chăn nuôi gia cầm, 9 cơ sở chăn nuôi ba ba, đóng mới 15 lồng bè nuôi cá. Triển khai thực hiện mô hình chăn nuôi lợn nái sinh sản cho 69 hộ nghèo tại 3 xã Mai Sơn, Khánh Thiện, Lâm Thượng.

          c) Lâm nghiệp

Diện tích trồng cây lâm nghiệp năm 2012 đạt 2.400 ha, bằng 100%kế hoạch; diện tích trồng chủ yếu là keo, bồ đề và một số loại cây bản địa.

Chú trọng công tác quản lý, bảo vệ rừng, ngành chức năng tăng cường tuần tra, kiểm soát, kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm các vụ vi phạm Luật Quản lý và bảo vệ rừng. Trong năm 2012, ngành chức năng huyện xử lý 31 vụ vi phạm, tịch thu 53,133 m3 gỗ, thu nộp ngân sách396,529 triệu đồng.

Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng được các cấp, các ngành thường xuyên quan tâm, chỉ đạo; duy trì và củng cố 25 Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng với 227 tổ đội được phân công nhiệm vụ cụ thể; chú trọng công tác xây dựng và thực hiện quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn, bản nên trong năm 2012 toàn huyện không xảy ra cháy rừng. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng, vườn hộ gia đình đạt 11.897,83m3.

 

d) Công tác phòng chống bão lũ, giảm nhẹ thiên tai

Trong năm 2012 trên địa bàn huyện xảy ra nhiều đợt mưa to kèm theo bão lốc gây nhiều thiệt hại về cơ sở vật chất và hoa màu; làm sập đổ hoàn toàn 93 nhà, 338 nhà bị hỏng từ 30% đến 50% diện tích mái, 206 nhà hỏng mái từ 50% trở lên, trên 264 ha lúa và hoa màu bị thiệt hại, đổ gẫy 03 cột điện đường dây 70KV, làm 3 người bị thương nặng. Công tác khắc phục hậu quả được các cấp, các ngành triển khai nhanh chóng, kịp thời ổn định đời sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.

e) Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới: UBND huyện đã kiện toàn Ban Chỉ đạo, ban hành chỉ thị, kế hoạch và tổ chức Lễ phát động phong trào thi đua “Lục Yên chung sức xây dựng nông thôn mới” tại xã Lâm Thượng. Hiện nay đã có 23 xã được phê duyệt đồ án quy hoạch nông thôn mới; 9 xã đã phê duyệt đề án, 14 xã đang thẩm định đề án, trong đó 04 xã thực hiện làm điểm giai đoạn 2011-2015 gồm: Tân Lĩnh, Lâm Thượng, Tô Mậu, Liễu Đô; các xã còn lại thực hiện trong giai đoạn tiếp theo đến năm 2020.

          2. Sản xuất công nghiệp - xây dựng cơ bản - khoa học, công nghệ

          Tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp - xây dựng đạt 22,3%, vượt 0,9% kế hoạch.

          a) Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:

Tổng giá trị sản xuất CN - TTCN (giá cố định) đạt 421,6 tỷ đồng, bằng 163,4% kế hoạch, tăng cao so với năm 2011, trong đó: công nghiệp quốc doanh 0,3 tỷ đồng, bằng 4,1% kế hoạch; công nghiệp ngoài quốc doanh 195 tỷ đồng, bằng 102,6% kế hoạch; công nghiệp có vốn đầu tư­ nước ngoài 226,3 tỷ đồng, bằng 377% kế hoạch. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu: đá Blook 10.610 m3; đá xây dựng, đá dăm, sỏi các loại 185.665 m3; đá xẻ tấm lớn 158.300 m2, đá xẻ tấm nhỏ 90.000 m2...

Giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN năm 2012 tăng cao so với kế hoạch là do các ngành công nghiệp tiếp tục có sự tăng trưởng mạnh và ổn định như: công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản; khai thác, chế biến gỗ rừng trồng...; bên cạnh đó một số ngành tiểu thủ công nghiệp có bước phát triển và tìm được thị trường như sản xuất tranh đá quý, đá mỹ nghệ, mây tre đan...; việc hỗ trợ các cơ sở sản xuất thông qua dự án khuyến công được chú trọng, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển.

b) Tổng vốn đầu tư và xây dựng cơ bản

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn huyện năm 2012 thực hiện 800 tỷ đồng, đạt 114,3% kế hoạch, tăng 150 tỷ đồng so với năm 2011. Các dự án chuyển tiếp thuộc vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý được duy trì đảm bảo tiến độ.

Giá trị khối lượng thực hiện các công trình xây dựng cơ bản năm 2012 thực hiện 200,4 tỷ đồng, bằng 105% kế hoạch, tăng 12,5% so với năm 2011, trong đó: giá trị xây dựng giao thông đạt 131,3 tỷ đồng (bao gồm: đường Tân Lĩnh - Minh Chuẩn - Việt Tiến; đường Khánh Hoà - Minh Xuân; cầu Sài Trên xã Trung Tâm; đường nhánh I + III, thị trấn Yên Thế; đường Vĩnh Lạc - Mường Lai, đường từ Quốc lộ 70 đi thôn 14 và thôn 15 xã Động Quan và hơn 42 km đường kích cầu, bao gồm 20 km đường đất và 22,96 km đường bê tông...). Xây dựng cơ bản khác 69,1 tỷ đồng (gồm trụ sở Chi Cục thuế, trụ sở Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện; kè chống sạt lở đền Đại Kại; thuỷ lợi Từ Hiếu, xã Mường Lai...).

c) Khoa học, công nghệ

Hoạt động khoa học, công nghệ tiếp tục phát triển, kết quả nghiên cứu, ứng dụng có giá trị thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất trong các lĩnh vực phục vụ đời sống nhân dân. Năm 2012 có 2 đề tài, dự án thuộc dự án cấp tỉnh ủy quyền cho địa phương quản lý triển khai thực hiện trong lĩnh vực nông lâm nghiệp: Đề tài “Nghiên cứu và ứng dụng hệ thống canh tác lúa cải tiến SRI trên địa bàn huyện Lục Yên”; đề tài “Áp dụng biện pháp nông - lâm kết hợp trên đất dốc nhằm cải tạo đất, chống xói mòn hướng tới canh tác lâu dài và bền vững huyện Lục Yên”. Triển khai, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 vào hoạt động của các cơ quan hành chính trên địa bàn huyện, nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hành chính.

3. Thương mại, dịch vụ

Hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ trên địa bàn huyện tiếp tục phát triển. Tốc độ tăng trưởng ngành thương mại, dịch vụ đạt 21,4%, đạt chỉ tiêu kế hoạch, giảm 0,6% so với năm 2011.

Tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội đạt 440 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch, tăng 72 tỷ đồng so với năm 2011, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của người dân cả về số lượng, chất lượng và chủng loại hàng hóa. Tổ chức thành công 2 Hội chợ thương mại huyện Lục Yên, với quy mô 70 gian hàng/phiên, thu hút đông đảo nhân dân trong huyện đến thăm quan, trao đổi, mua sắm; thu hút nhiều doanh nghiệp trong và ngoài huyện đến quảng bá sản phẩm, tiếp cận thị trường và buôn bán.

Dịch vụ vận tải có nhiều tiến bộ, số xe khách chất lượng cao của các doanh nghiệp đưa vào khai thác ngày càng tăng, đáp ứng nhu cầu đi lại, trao đổi buôn bán của nhân dân trong và ngoài huyện; hoạt động viễn thông phát triển, tăng nhanh số lượng các thuê bao điện thoại và vùng phủ sóng, số xã, thị trấn có điện thoại đạt 100% (24/24 xã, TT). Triển khai thực hiện dự án mở rộng lưới điện nông thôn (REII) tại 4 xã: Động Quan, Yên Thắng, Liễu Đô, Tân Lĩnh; hệ thống điện lưới quốc gia đã được triển khai tới 24 xã, thị trấn; tỷ lệ hộ được sử dụng điện lưới Quốc gia đạt 97,5% đạt chỉ tiêu Nghị quyết.

          4. Tài chính, Ngân hàng

          Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 48,52 tỷ đồng, bằng 106,6% dự toán tỉnh giao, bằng 102% kế hoạch huyện, tăng 56% so với năm 2011. Các ngành chuyên môn đã triển khai thực hiện có hiệu quả công tác lập và giao dự toán, tăng cường các biện pháp chống thất thu và quản lý tốt các nguồn thu.

Tổng chi ngân sách ước thực hiện 433,88 tỷ đồng, bằng 152% kế hoạch huyện, tăng 53,3% (150,9 tỷ đồng) so với năm 2011. Thực hiện chi ngân sách đảm bảo đáp ứng yêu cầu chi hoạt động thường xuyên của các cơ quan, đơn vị, chi trả chế độ cho cán bộ, công chức, viên chức và đối tượng hưởng từ ngân sách nhà nước. Thực hiện chi tiết kiệm, chống lãng phí và chi đúng theo qui định của pháp luật.

Các ngân hàng đảm bảo việc huy động, cho vay và thu hồi vốn vay. Tổng nguồn vốn huy động trong năm 2012 ước đạt 384,3 tỷ đồng, tăng 20,8% so với năm 2011, trong đó nguồn vốn huy động tại địa phương 131 tỷ đồng, tăng 38,4% so với năm 2011. Tổng dư nợ cho vay 495,05 tỷ đồng, tăng 8,6% so với năm 2011, đảm bảo cho các chương trình vay tín dụng, vay vốn phát triển kinh tế như: cho vay hộ nghèo, cho vay giải quyết việc làm, cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn; nợ quá hạn của ngân hàng chính sách 1,1%; ngân hàng nông nghiệp dưới 1%.

5. Công tác tài nguyên và môi trường

          Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong năm cấp được 1.221 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện, trong đó đăng ký ban đầu 364 giấy, bằng 20,3% kế hoạch giao; tiếp nhận và đăng ký giao dịch đảm bảo cho 1.563 trường hợp, trong đó xoá đăng ký thế chấp 616 trường hợp, đăng ký thế chấp 947 trường hợp. Giao đất cho 36 hộ gia đình, cá nhân trúng đấu giá quyền sử dụng đất tại các xã, thị trấn; xác minh, thẩm tra và cho phép chuyển mục đích sử dụng đất với diện tích 6.193,4 m2. Tiến hành bồi thường, giải phóng mặt bằng và thẩm định 8 công trình xây dựng trên địa bàn huyện để nhà nước và doanh nghiệp đầu tư xây dựng. Tiến hành rà soát, kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn, phát hiện và xử lý 232/295 trường hợp vi phạm, tỷ lệ giải quyết đạt 79%.

          Hoàn thành việc xây dựng bảng giá đất huyện Lục Yên năm 2013;chỉ đạo chặt chẽ các cơ quan, đơn vị chuyên môn của huyện triển khai công tác kiểm tra tình hình hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản của các doanh nghiệp trên địa bàn theo kế hoạch. Thẩm định và xác nhận 19 thông báo về việc chấp nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường và 07 giấy xác nhận đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản cho 26 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện.

          II. LĨNH VỰC VĂN HÓA - XÃ HỘI

1. Công tác giáo dục và đào tạo

Công tác giáo dục - đào tạo được duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng dạy

và học. Hoàn thành tốt chương trình năm học 2011-2012. Tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 99,92%, bổ túc THPT đạt 98,6%. Năm học 2012 - 2013 toàn huyện có tổng số 83 trường; 919 lớp, nhóm lớp; 23.394 cháu, học sinh. Số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi 11 xã, bằng 100% kế hoạch, tăng 83,3% (tăng 5 xã) so năm 2011...; tỷ lệ phòng học được kiên cố hoá đạt 95,2% thấp hơn 0,5 so với kế hoạch.

Công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi tiếp tục được củng cố; duy trì 24/24 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục THCS đạt 100% kế hoạch.

Tiếp tục thực hiện đề án xây dựng trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2011-2015. Năm học 2012 - 2013 tổng số trường đạt chuẩn quốc gia đạt 19 trường, bằng 105,6% kế hoạch, tăng 3 trường so năm học 2011-2012.

          Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên được quan tâm bồi dưỡng và sắp xếp, cơ bản đáp ứng được yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, giải quyết được tình trạng thiếu, thừa cục bộ; công tác tuyển dụng viên chức ngành giáo dục năm 2012 thực hiện đầy đủ, đúng quy trình do Sở Nội vụ và UBND tỉnh quy định.

          2. Công tác lao động, việc làm và thực hiện chính sách an sinh xã hội, chính sách dân tộc - tôn giáo

a) Công tác lao động, việc làm, xóa đói giảm nghèo

Công tác lao động, việc làm có nhiều cố gắng và đạt kết quả nhất định trong bối cảnh khó khăn chung của cả nước; năm 2012 số lao động được tạo việc làm mới là 3.000 lao động (trong đó xuất khẩu lao động 51 người) đạt 100% kế hoạch. Trong năm đào tạo nghề cho 1.000 lao động, đạt 100% kế hoạch; tỷ lệ lao động qua đào tạo 39,5%, đạt chỉ tiêu kế hoạch, tăng 2,9% so với năm 2011 (trong đó lao động qua đào tạo nghề 19%).

Năm 2012 thực hiện tốt công tác giảm nghèo; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 32,34% (giảm 3,93% so với năm 2011), vượt 0,43% so với kế hoạch. Triển khai nhiều chính sách, dự án hỗ trợ hộ nghèo như: Hỗ trợ trực tiếp cho 36.700 người dân hộ nghèo ở vùng khó khăn theo quyết định 102 của Chính phủ với kinh phí 3.174,18 triệu đồng, hỗ trợ tiền điện thắp sáng cho 9.012 hộ với kinh phí 3.244,32 triệu đồng, hỗ trợ dầu hỏa thắp sáng bằng tiền mặt cho 496 hộ với kinh phí 52,6 triệu đồng...; Hỗ trợ khai hoang ruộng nước cho hộ thuộc vùng đặc biệt khó khăn của huyện với diện tích 10 ha, kinh phí 100 triệu đồng.

b) Chính sách an sinh, bảo trợ xã hội, dân tộc, tôn giáo

Thực hiện tốt chính sách đối với người có công và các chính sách xã hội; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội. Tổ chức cứu đói dịp Tết Nhâm Thìn và giáp hạt đầu năm cho 14.140 khẩu với 212.100 kg gạo. Tổ chức thăm hỏi và tặng quà cho 3.189 lượt đối tượng người có công dịp lễ, tết với tổng số tiền 666,7 triệu đồng; tổ chức điều dưỡng cho 245 người có công, trong đó: 55 người điều dưỡng tập trung tại Quảng Ninh; 190 người điều dưỡng tại gia đình. Phối hợp thực hiện chương trình phẫu thuật do đục thủy tinh thể bằng phương pháp phaco cho 119 bệnh nhân bị mù lòa; thăm hỏi, tặng quà cho 486 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn dịp lễ, tết với kinh phí 61,1 triệu đồng. Thực hiện chế độ miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí cho học sinh, sinh viên theo Nghị định 49 của Chính phủ: hỗ trợ chi phí học tập cho 10.998 lượt học sinh, sinh viên, kinh phí 3.242,47 triệu đồng; cấp bù học phí cho 523 lượt học sinh, sinh viên với số tiền 1.405,685 triệu đồng. Thực hiện kế hoạch hỗ trợ 100 hộ nghèo làm nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ; 40 hộ gia đình người có công được hỗ trợ làm nhà theo Đề án hỗ trợ hỗ trợ hộ gia đình người có công khó khăn về nhà ở tỉnh Yên Bái năm 2012; 33 hộ gia đình cựu chiến binh khó khăn về nhà ở.

 

Thực hiện tốt các chính sách tôn giáo, bảo đảm tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của nhân dân; các hoạt động về tôn giáo thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Tổ chức đoàn công tác thăm và tặng quà Chùa Thượng Miện, các phật tử tiêu biểu nhân dịp lễ Phật đản; thăm hỏi các tổ chức, gia đình giáo dân tiêu biểu nhân dịp lễ Noel năm 2012.

          3. Công tác y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình

Công tác y tế, dân số tiếp tục được quan tâm thực hiện. Triển khai hoàn thành tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế và công tác phòng, chống dịch bệnh; khống chế thành công dịch chân-tay-miệng xảy ra trên địa bàn. Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ khám, chữa bệnh được tăng cường đầu tư. Chất lượng hoạt động khám, chữa bệnh được nâng lên, đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân; đảm bảo đủ thuốc phòng, chữa bệnh. Thực hiện trên 193.314 lượt khám bệnh cho nhân dân, điều trị nội trú cho 9.248 lượt bệnh nhân. Cấp 96.817 thẻ bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, đối tượng bảo trợ xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số…; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống còn 21,23%, vượt 0,27% kế hoạch. Tiếp tục duy trì 22 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã (theo tiêu chí cũ), duy trì đạt 2 xã theo tiêu chí mới.

          Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình được triển khai đồng bộ, trong đó đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục chuyển đổi hành vi về dân số và kế hoạch hoá gia đình trong cộng đồng, nâng cao chất lượng dịch vụ và đưa dịch vụ đến các vùng có mức sinh cao, vùng khó khăn; Quy mô dân số ổn định; năm 2012 số trẻ em sinh ra là con thứ 3 trở lên là 99/1.560 trẻ sinh, chiếm tỷ lệ 6,3% (không có đảng viên sinh con thứ 3); mức giảm sinh 0,1‰ đạt mục tiêu kế hoạch; tốc độ gia tăng dân số tự nhiên 1,067%, giảm 0,01% so với năm 2011, đạt kế hoạch đề ra.

4. Công tác văn hoá, thông tin, thể thao và phát thanh- truyền hình

Lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể thao, du lịch hoạt động chú trọng về chất lượng và rộng khắp hơn. Các hoạt động văn hoá, văn nghệ, tuyên truyền, cổ động được tăng cường trong các dịp lễ, tết, ngày kỷ niệm lớn của đất nước, của tỉnh và của huyện; tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và phục vụ tốt nhu cầu hưởng thụ văn hoá của nhân dân. Phản ánh kịp thời không khí vui xuân đón Tết cổ truyền Nhâm Thìn, Hội chọi trâu, Lễ Hội đền Đại Kại; kỷ niệm 82 năm thành lập Đảng (3/2), 65 năm ngày thành lập Đảng bộ huyện Lục Yên, ngày thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất gắn với ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc... Các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “Lục Yên chung sức xây dựng nông thôn mới”; xây dựng thôn, bản, tổ dân phố văn hoá tiếp tục được quan tâm thực hiện, tỷ lệ thôn, bản, tổ dân phố đạt văn hóa 53,3%; tỷ lệ hộ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa 65,4%. Tổ chức ra mắt xã Lâm Thượng xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, nâng tổng số 8 xã đã ra mắt xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, đạt 100% kế hoạch. Tỷ lệ cơ quan, đơn vị đạt chuẩn văn hóa 99%, đạt chỉ tiêu kế hoạch.

 

Tổ chức thành công giải bóng đá nhi đồng huyện Lục Yên lần thứ III; giải vô địch bóng chuyền huyện Lục Yên năm 2012. Dẫn đầu thành tích toàn đoàn tại “Hội thao thể thao quốc phòng toàn dân” tỉnh Yên Bái, lần thứ IV năm 2012 với 9 huy chương vàng, 5 huy chương bạc, 5 huy chương đồng.

Công tác phát thanh - truyền hình của huyện đã xây dựng được nhiều chương trình phục vụ tốt cho công tác tuyên truyền, đặc biệt hướng về cơ sở, tạo được không khí đồng thuận trong xã hội. Trang thông tin điện tử của huyện có nhiều đổi mới, kịp thời đưa lên Trang các thông tin công tác chỉ đạo, định hướng phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho các cơ quan, địa phương cập nhật nhanh chóng, kịp thời triển khai, thực hiện.

          III. CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH - THANH TRA, TƯ PHÁP, THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1. Công tác cải cách hành chính

Tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính; tập trung chỉ đạo thực thi bộ thủ tục hành chính. Năm 2012 các phòng, ban chuyên môn và 24 xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã có cán bộ đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính, hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính bước đầu đi vào nề nếp; việc niêm yết công khai các thủ tục hành chính tại trụ sở làm việc của các cơ quan, đơn vị, UBND các xã, thị trấn đã được thực hiện. Tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông ở các xã, thị trấn tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, công dân đến giao dịch, giải quyết công việc.

2. Công tác thanh tra

Trong năm 2012, Thanh tra huyện tiến hành 05 cuộc thanh tra về kinh tế-xã hội, thu hồi tiền do các đối tượng sai phạm nộp ngân sách nhà nước 98,185 triệu đồng.

Công tác tiếp công dân và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân được UBND huyện và các cơ quan chức năng thực hiện nghiêm túc, đảm bảo quá trình xem xét, thụ lý giải quyết các vụ việc theo đúng quy định của pháp luật; duy trì mỗi tháng họp 1 lần để giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; trong năm 2012 tiếp nhận 109 đơn, gồm nhận mới 88 đơn, từ năm 2011 chuyển sang 17 đơn, trong đó: 10 đơn tố cáo, 21 đơn khiếu nại, 78 đơn đề nghị; đã giải quyết xong 88/109 đơn, tỷ lệ giải quyết đạt 80,7%, trong đó kết quả giải quyết đơn cấp huyện: 58/71 đơn; cấp xã: 30/38 đơn. 

3. Công tác tư pháp

Công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật năm 2012 được thực hiện tốt; các ngành, các cấp đã tích cực trong việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến với nhân dân; nội dung hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú, phù hợp với từng vùng, từng đối tượng tuyên truyền.

          Trong năm đã tổ chức 11 lớp tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ hoạt động hòa giải cho đội ngũ hòa giải viên cơ sở tại 10 xã cho 760 lượt người tham gia học tập, gồm các chuyên đề về Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật Trợ giúp pháp lý

và Nghị định số 59 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Thực hiện 281 đợt tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho 16.567 lượt người tham gia. Tiếp nhận và hòa giải 158/171 việc, tỷ lệ hòa giải đạt 92,3%.

          Trong năm 2012, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân huyện đã ban hành 04 văn bản quy phạm pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012 (03 Nghị quyết HĐND và 01 Quyết định của UBND); công tác xây dựng và thẩm định văn bản quy phạm pháp luật đã đi vào nề nếp, đạt hiệu quả; các văn bản thẩm định đều có chất lượng đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, góp phần giúp chính quyền các cấp nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước tại địa phương.

Công tác hộ tịch, chứng thực được quan tâm và thực hiện đúng quy định, năm 2012 đã chứng thực tổng số 31.355 bản, cải chính hộ tịch cho 77 trường hợp yêu cầu thay đổi họ, tên và xác định lại dân tộc.

4. Công tác thi hành án dân sự

Công tác thi hành án dân sự năm 2012 có nhiều chuyển biến tích cực, ngành chức năng phối hợp với UBND các xã, thị trấn xây dựng kế hoạch, đôn đốc và thi hành dứt điểm đối với những vụ việc có điều kiện thi hành.

          IV. CÔNG TÁC AN NINH, QUỐC PHÒNG

          1. Công tác an ninh

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định. An ninh nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh văn hoá tư tưởng, an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo - dân tộc thường xuyên được tăng cường, kiểm soát chặt chẽ. Hoạt động của các loại tội phạm từng bước được kiềm chế, đẩy lùi.

Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông được chú trọng, lực lượng chức năng thường xuyên tổ chức tuần tra, kiểm soát phát hiện và xử lý 2.131 trường hợp vi phạm về giao thông đường bộ, 05 trường hợp vi phạm về giao thông đường thủy nội địa, thu nộp ngân sách nhà nước 635 triệu đồng. Số vụ tai nạn và va quệt giao thông giảm cả về số vụ, số người chết và bị thương so với năm 2011 (giảm: 5 vụ; 4 người chết; 6 người bị thương).

2. Công tác quân sự

          Duy trì, thực hiện nghiêm các quy định, chế độ trực sẵn sàng chiến đấu ở các cấp, tập trung triển khai các kế hoạch, biện pháp nghiệp vụ, nắm chắc diễn biến, tình hình, có kế hoạch chủ động đối phó với mọi tình huống có thể xảy ra. Tiếp tục nâng cao chất lượng dân quân tự vệ; tổ chức huấn luyện, diễn tập, luyện tập chiến đấu trị an cho các xã, thị trấn; giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho các đối tượng 3,4,5 theo đúng kế hoạch.

          Chuẩn bị các lực lượng, phương tiện sẵn sàng ứng phó trong công tác phòng chống lụt bão, phòng chống cháy nổ và phòng cháy chữa cháy rừng. Tổ chức diễn tập PCLB-TKCN cấp huyện tại xã Tô Mậu đạt kết quả giỏi.

          Thực hiện tốt công tác khám, tuyển quân năm 2012, đạt 100% chỉ tiêu kế hoạch; tổ chức tốt lễ bàn giao, nhận quân, số tân binh lên đường làm nhiệm vụ đảm bảo cả về số lượng và chất lượng.

ĐÁNH GIÁ CHUNG

Thực hiện nhiệm vụ năm 2012, UBND huyện tích cực triển khai thực hiện các nội dung chỉ đạo của UBND tỉnh và các Sở, ban, ngành của tỉnh; dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, giám sát của Hội đồng nhân dân huyện, sự quản lý, điều hành chủ động của Uỷ ban nhân dân huyện, cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân các dân tộc trong huyện, tranh thủ mọi nguồn lực, phát huy tiềm năng lợi thế, tình hình kinh tế - xã hội của huyện tiếp tục có bước phát triển và đạt được kết quả tích cực: Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 17,1% vượt 1,4% kế hoạch, tăng so với cùng kỳ năm 2011; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ. Sản xuất nông nghiệp ổn định, diện tích, sản lượng cây trồng bao gồm cả cây lương thực và rau màu đều tăng; cơ cấu nội ngành nông nghiệp có chuyển biến, nhiều mô hình chăn nuôi hiệu quả được nhân rộng; hoàn thành kế hoạch trồng rừng mới. Phong trào xây dựng đường giao thông nông thôn gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới được các xã và người dân hưởng ứng với nhiều cách làm sáng tạo và hiệu quả. Giá trị sản xuất công nghiệp-TTCN tăng cao so với cùng kỳ năm 2011. Hoạt động thương mại-dịch vụ  cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân. Tích cực thực hiện các biện pháp thu ngân sách, trong điều kiện khó khăn vẫn đạt và vượt kế hoạch tỉnh giao. Lĩnh vực văn hóa-xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần   của người dân ngày càng được nâng cao; văn hóa, thể thao, giáo dục, y tế được quan tâm chỉ đạo và có nhiều chuyển biến tích cực; thực hiện tốt an sinh xã hội, đảm bảo chính sách đối với người có công và các đối tượng bảo trợ xã hội, triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo bền vững. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững và ổn định; hầu hết các vấn đề phát sinh đều được giải quyết kịp thời ngay từ cơ sở; hệ thống chính trị được củng cố, đảm bảo hoạt động thường xuyên, hiệu lực, hiệu quả.

Tuy nhiên, ngoài những kết quả đạt được trong năm 2012 vẫn còn một số khó khăn, tồn tại:

          Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa thật sự bền vững. Trong nông nghiệp việc phát triển đàn gia súc gặp nhiều khó khăn, đàn trâu, đàn bò đều giảm so với cùng kỳ và không đạt kế hoạch; việc triển khai thực hiện và đánh giá hiệu quả các chương trình hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp còn chậm. Một số địa phương chưa kiên quyết, tích cực trong việc chỉ đạo sản xuất, nhất là chủ động làm mùa sớm để sản xuất cây vụ đông, do đó chất lượng, hiệu quả chưa cao và ảnh hưởng đến tâm lý người dân.

Trong sản xuất công nghiệp - TTCN: Các cơ sở sản xuất công nghiệp, TTCN còn nhỏ lẻ chưa tập trung, chưa hình thành được các làng nghề theo quy hoạch chung của huyện. Lãi suất cho vay của ngân hàng tuy đã giảm nhưng việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏđã ảnh hưởng lớn tới việc mở rộng đầu tư để phát triển sản xuất, đồng thời việc thực hiện Chỉ thị số 02/CT-TTg của Chính phủ về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản đã tác động lớn tới một số hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản trên địa bàn, đặc biệt là trong lĩnh vực khai thác, chế biến, xuất khẩu đá hoa trắng.

Trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng cơ bản: Do tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết 11/2011/NQ-CP của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, vì vậy các dự án đầu tư công trên địa bàn giảm, một số dự án lớn trên địa bàn triển khai chậm, nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư, công tác đền bù giải phóng mặt bằng tại một số công trình, dự án còn chậm.

Công tác triển khai, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở một số xã còn chậm và hình thức. Một số xã Đề án xây dựng nông thôn mới triển khai chậm.

Thu ngân sách Nhà nước năm 2012 gặp nhiều khó khăn, tuy đã hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách theo kế hoạch giao, song một số khoản thu không đạt như:  thu ngoài quốc doanh, thu phí, lệ phí, thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thu phí bảo vệ môi trường... đã ảnh hưởng tới khả năng cân đối nguồn thu ngân sách huyện.

          Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội: Chất lượng phong trào xây dựng gia đình, thôn, bản, tổ dân phố văn hóa chưa cao. Việc đảm bảo cácđiều kiện về cơ sở vật chất, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn còn nhiều hạn chế so với yêu cầu phát triển quy mô trường lớp học; nguồn vốn ngân sách đầu tư cho xây dựng các công trình trường lớp học giảm dẫn đến tỷ lệ kiên cố hoá trường lớp học không đạt so kế hoạch đề ra. Một số trường chuẩn quốc gia hiện nay nợ nhiều tiêu chí về cơ sở vật chất, thiếu phòng chức năng, nhà hiệu bộ, nhà công vụ...; một số trường mầm non ở các điểm lẻ phải học nhờ ở các nhà văn hóa, thôn bản.

Một số ngành chậm đổi mới trong chỉ đạo và thực hiện nhiệm vụ, công tác tham mưu còn hạn chế, chưa chủ động đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn chung; chỉ đạo điều hành của chính quyền cấp xã có nơi chưa chủ động.

Việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo đã được các ngành, các cấp quan tâm, phối hợp giải quyết và có nhiều đổi mới nhưng vẫn còn vướng mắc, một số đơn chưa giải quyết được dứt điểm.

 

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG,  NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2013

 

I. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2013

A. VỀ MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Tiếp tục tập trung phát triển kinh tế - xã hội đạt tốc độ tăng trưởng và bền vững; đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, trọng tâm là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới. Phát huy nội lực, tranh thủ và sử dụng có hiệu quả đầu tư của nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội.

Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đảm bảo cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng. Tăng cường bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân tiến tới giảm nghèo bền vững. Giữ vững ổn định chính trị, tăng nguồn lực quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện.

B. DỰ KIẾN KẾ HOẠCH NĂM 2013

I. CÁC CHỈ TIÊU VỀ KINH TẾ

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế: 16,8%

- Nông, lâm, ngư nghiệp:     5,7%

- Công nghiệp, xây dựng:   20,8%

- Thương mại, dịch vụ:       21,5%

2. Cơ cấu kinh tế:

- Nông, lâm, ngư nghiệp:    24,0%

- Công nghiệp, xây dựng:   45,7%

- Thương mại, dịch vụ:       30,3%

3. Giá trị sản xuất nền kinh tế (Giá CĐ) ước đạt: 1.342 tỷ đồng

- Nông, lâm, ngư nghiệp:       336 tỷ đồng

- Công nghiệp, xây dựng:      610 tỷ đồng

    Trong đó: Công nghiệp - TTCN ngoài quốc doanh: 225 tỷ đồng

- Thương mại, dịch vụ:         396 tỷ đồng.

4. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN (Giá CĐ): 505 tỷ đồng.

5. Tổng giá trị xây dựng cơ bản (giá hiện hành): 248 tỷ đồng.

6. Giá trị sản xuất bình quân/người/năm: 29,4 triệu đồng.

Trong đó: Thu nhập bình quân đầu người/năm: 18 triệu đồng.

7. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn: 900 tỷ đồng.

8. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: 51,5 tỷ đồng.

9. Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ trên địa bàn: 520 tỷ đồng.

10. Giá trị xuất khẩu trên địa bàn: 8 triệu USD.

11. Tổng diện tích cây lương thực có hạt đạt: 12.300 ha.

12. Tổng sản lượng lương thực có hạt: 54.690 tấn.

13. Chăn nuôi: Tổng đàn gia súc: 105.000 con, trong đó:

- Đàn trâu: 17.800 con.

- Đàn bò:        770 con.

- Đàn lợn:  86.430 con.

14. Diện tích nuôi trồng thủy sản: 310 ha.

15. Cây ăn quả trồng mới và cải tạo: 50 ha.

16. Diện tích trồng rừng mới: 2.100 ha.

II. CÁC CHỈ TIÊU VỀ XÃ HỘI

17. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,066%.

18. Mức giảm sinh: 0,2‰.

19. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng: 21%.

20. Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt: 92%

21. Số xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế xã (theo bộ tiêu chí giai đoạn 2011-2020): 4 xã.

22. Tỷ lệ hộ gia đình nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt: 48%

23. Số xã đạt từ 5 tiêu chí nông thôn mới trở lên: 10 xã

Trong đó: Số xã đạt từ 10 tiêu chí nông thôn mới trở lên: 2 xã

24. Số xã, thị trấn đạt PCGDTH đúng độ tuổi mức độ 1, PCGDTHCS:24 xã, TT.

25. Số xã, thị trấn đạt chuẩn PCGD mầm non cho trẻ em 5 tuổi: 22 xã, TT.

26. Tỷ lệ kiên cố hoá trường lớp học: 95,7%.

27. Tổng số trường học đạt chuẩn quốc gia: 21 trường.

28. Tỷ lệ thôn, bản, tổ dân phố đạt tiêu chuẩn văn hóa (theo Quyết định số 09/2012/QĐ-UBND của UBND tỉnh): 54%.

29. Tỷ lệ cơ quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hoá (theo Quyết định số 10/2012/QĐ-UBND của UBND tỉnh): 89,5%.

30. Tỷ lệ hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá (theo Quyết định số 09/2012/QĐ-UBND của UBND tỉnh): 72%.

31. Số xã ra mắt xây dựng chuẩn văn hoá: 9 xã.

32. Tạo việc làm mới: 3.000 người.

33. Số lượng lao động được đào tạo tại huyện: 1.000 người.

34. Tỷ lệ lao động qua đào tạo: 42%.

35. Giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo, giai đoạn 2011-2015): Giảm 4%.

36. Tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh: nông thôn: 69%; thị trấn: 88,5%.

37. Tỷ lệ hộ được sử dụng điện lưới quốc gia: 98%.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NĂM 2013

Những kết quả đạt được trong năm 2012 tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2013 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2011-2015)Để triển khai Nghị quyết Kỳ họp thứ 6 - HĐND huyện Lục Yên khóa XIX, các cơ quan, ban ngành, UBND các xã, thị trấn cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm chủ yếu sau đây:

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và phát triển nông thôn

- Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng tăng dần tỷ trọng chăn nuôi; gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến. Huy động các nguồn lực từ các chương trình, dự án và các chính sách hỗ trợ để phát triển mạnh chăn nuôi hàng hóa tập trung; quản lý chặt chẽ hoạt động chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện. Xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát triển những loại cây ăn quả có giá trị kinh tế là thế mạnh của huyện để nâng cao hiệu quả kinh tế. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp để tăng năng suất, chất lượng; chú trọng công tác bảo vệ cây trồng, vật nuôi.

Tiếp tục nhân rộng các mô hình sản xuất, chăn nuôi có hiệu quả, đặc biệt xây dựng các vùng: sản xuất rau, quả an toàn, vùng trồng tre măng Bát Độ… góp phần nâng cao hệ số sử dụng đất và hiệu quả kinh tế.

- Phát triển ngành, nghề nông thôn, đặc biệt là chế biến nông, lâm sản nhằm sử dụng hợp lý, nâng cao giá trị sản phẩm, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Đa dạng hoá sản phẩm ngành, nghề góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

- Duy tu, sửa chữa các công trình thuỷ lợi đảm bảo yêu cầu phục vụ tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp.

- Tập trung huy động các nguồn lực thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp, phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình xây dựng nông thôn mới.

- Chủ động xây dựng các phương án, sẵn sàng ứng phó có hiệu quả với mọi tình huống khi xảy ra thiên tai, bão lũ.

- Tiếp tục triển khai thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn được đầu tư, ưu tiên đầu tư thực hiện các chỉ tiêu có khả năng hoàn thành trước trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

2. Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, xây dựng

Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng ưu tiên thu hút đầu tư các ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, đặc biệt là đầu tư kỹ thuật, dây truyền công nghệ chế biến sâu, nâng cao giá trị sản phẩm, tận dụng tài nguyên, tạo việc làm, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Phát huy hiệu quả hoạt động của Hội đá hoa trắng Lục Yên trong việc thúc đẩy sự phát triển của các đơn vị thành viên cũng như ngành khai thác chế biến đá hoa trắng của huyện.

Tiếp tục đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cụm công nghiệp Yên Thế; huy động đầu tư và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp, tập trung phát triển những sản phẩm có thị trường ổn định, có khả năng cạnh tranh cao.

Chỉ đạo thực hiện Đề án phát triển giao thông nông thôn giai đoạn 2012 - 2015 và kế hoạch năm 2013. Phối hợp với các ngành của tỉnh tăng cường công tác thu hút vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

 

3. Công tác thương mại - dịch vụ

Nâng cao tốc độ tăng trưởng của ngành thương mại - dịch vụ; phát triển các ngành dịch vụ theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả. Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động lĩnh vực bưu chính - viễn thông, tiếp tục phát triển mạng lưới vận tải, đẩy mạnh phát triển dịch vụ nhà ở, dịch vụ giải trí, văn hoá, dịch vụ khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, văn hoá thông tin, dịch vụ y tế.

Đẩy mạnh đầu tư sản xuất, chế biến nông sản theo hướng hàng hóa; tạo điều kiện cho các đơn vị, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp phát triển sản xuất; đa dạng hoá các hoạt động xúc tiến thương mại, mở rộng và phát triển thị trường.

Tổ chức khai thác tốt các điểm du lịch, các lễ hội truyền thống của huyện gắn với chương trình phát triển du lịch hướng về cội nguồn của 3 tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Lào Cai.

4. Công tác tài chính - ngân hàng

Tiếp tục thực hiện nghiêm cơ chế phân bổ ngân sách và phân cấp quản lý tài chính theo luật ngân sách. Tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ nguồn thu, đề ra các biện pháp chống thất thu ngân sách, phấn đấu tăng thu ngân sách huyện tăng 5% dự toán tỉnh giao năm 2013. Thực hiện tiết kiệm chi theo Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; đảm bảo ngân sách dự phòng để chi cho các nhiệm vụ đột xuất.

Thực hiện đa dạng hoá các biện pháp huy động vốn tại chỗ, quan tâm huy động nguồn vốn trung, dài hạn; tập trung vốn cho vay cho các lĩnh vực sản xuất, phát triển kinh tế, tạo việc làm…

5. Công tác tài nguyên - môi trường

Chú trọng điều chỉnh, hoàn thiện quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện, trong đó lưu ý nhu cầu cần chuyển đổi phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; nghiên cứu xây dựng phương án điều chỉnh quy hoạch các trung tâm xã để tạo quỹ đất, tạo nguồn lực cho phát triển; xây dựng phương án di dời các cơ sở sản xuất công nghiệp ra ngoài khu đô thị.

Tăng cường công tác quản lý đất đai, khoáng sản; kiểm tra các hoạt động khai thác, thăm dò, chế biến khoáng sản trên địa bàn nhằm phát hiện, chấn chỉnh kịp thời các tổ chức, cá nhân thực hiện chưa nghiêm túc các quy định của luật pháp và không để tình trạng khai thác khoáng sản trái phép xảy ra.

Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện giao dịch đảm bảo cho các tổ chức, cá nhân.

Chú trọng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng để xây dựng các công trình trọng điểm và bàn giao đất cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện.

6. Công tác văn hóa - xã hội

a) Văn hoá, thể thao và du lịch

Giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống văn hoá các dân tộc địa phương, nhằm xây dựng những nét văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư; củng cố nâng cao hiệu quả các thiết chế văn hoá tại các thôn, bản, tổ dân phố văn hoá. Tăng cường công tác quản lý các lễ hội, hoạt động văn hoá, thể thao, đảm bảo an ninh trật tự xã hội và tiết kiệm.

Tuyên truyền quảng bá các sản phẩm du lịch của địa phương đặc biệt tuyên truyền, quảng bá về lễ hội đền Đại Kại và Hội chọi trâu huyện Lục Yên nhằm thu hút khách du lịch trong và ngoài huyện tham gia. Tích cực quảng bá, tuyên truyền về di tích lịch sử: động Hương Thảo (chùa são), đền Đại Kại, xã Tân Lĩnh, di tích Cổ Văn, xã Mường Lai và các địa điểm sinh thái khác.

b) Giáo dục - đào tạo và dạy nghề

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục; phát triển theo hướng tăng cường đầu tư cơ sở vật chất đi đôi với nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và chất lượng dạy và học. Quy hoạch, sắp xếp mạng lưới trường, lớp học phù hợp với yêu cầu phát triển và tình hình thực tế của địa phương. Tiếp tục duy trì bền vững công tác chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở 24/24 xã, thị trấn.

Tập trung huy động các nguồn lực, nâng cao tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp học, xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu dạy và học của giáo viên và học sinh.

Mở rộng quy mô đi đôi với nâng cao chất lượng dạy nghề, đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động trong và ngoài huyện.

c) Công tác y tế, dân số và chăm sóc sức khỏe nhân dân

Tăng cường công tác kiểm soát dịch bệnh, an toàn vệ sinh thực phẩm. Nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ nhân dân; thực hiện tốt công tác cấp phát thẻ bảo hiểm y tế; chủ động, tích cực triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế; lồng ghép các mục tiêu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân và công tác dân số. Nâng cao năng lực giám sát, phát hiện và khống chế dịch bệnh, đặc biệt là HIV/AIDS và các dịch bệnh mới phát sinh. Triển khai và thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường giai đoạn 2012-2015.

d) Giải quyết việc làm, công tác giảm nghèo và các lĩnh vực xã hội khác

Chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn, mở rộng phương thức đào tạo, đào tạo theo nhu cầu sử dụng. Tăng cường công tác giải quyết việc làm, tranh thủ mọi nguồn lực, phấn đấu tạo ra nhiều việc làm mới tại chỗ cũng như liên kết, hợp tác đưa lao động đi làm việc tại các tỉnh trong nước cũng như xuất khẩu lao động.

Tiếp tục thực hiện đồng bộ các chương trình, đề án giảm nghèo bền vững; quan tâm công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em; duy trì và nâng cao chất lượng 24/24 xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã đạt tiêu chí phù hợp với trẻ em. Tiếp tục tổ chức triển khai có hiệu quả các chương trình, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn.

7. Công tác cải cách hành chính - thanh tra, tư pháp

 Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước. Tăng cường kiểm tra, giải quyết các vấn đề vướng mắc tại cơ sở. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm minh đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật.

Thường xuyên tiếp công dân; giải quyết kịp thời, dứt điểm đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân, không để xảy ra các điểm nóng, khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài, vượt cấp.

8. Công tác quốc phòng - an ninh

Tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Phát triển kinh tế xã hội đi đôi với củng cố quốc phòng, an ninh và xóa đói giảm nghèo.

Chỉ đạo các xã, thị trấn thực hiện tốt Luật Dân quân tự vệ, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng theo kế hoạch. Hoàn thành chỉ tiêu tuyển quân năm 2013.

Tổ chức thực hiện có hiệu quả các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm trên các tuyến và các địa bàn trọng điểm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, bảo vệ an toàn các ngày lễ, tết và các sự kiện chính trị xã hội của huyện trong năm 2013.

 

Trên đây là kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2012; phương hướng, nhiệm vụ năm 2013. Uỷ ban nhân dân huyện đề nghị các cấp, các ngành, nhân dân các dân tộc trong huyện nỗ lực phấn đấu nhằm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch nhà nước năm 2013./.

 

 

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN

CHỦ TỊCH

 

 

 

                        (Đã ký)

 

 

Bùi Văn Thịnh

Bản đồ Huyện Lục Yên

Thư viện Video

Lượt truy cập